Cùng thảo luận về các bệnh thường gặp

trong chăn nuôi thú y nhé!

CÁCH XÁC ĐỊNH TRỌNG LƯỢNG TRÂU, BÒ

Xác định khối lượng cơ thể trâu bò thông qua việc đo vòng ngực và độ dài thân chéo

 

Việc xác định khối lượng cơ thể chính xác nhất vẫn là cân trực tiếp. Tuy nhiên, để cân trọng lượng của một con trâu hay bò đôi khi lại gặp khó khăn vì trong nông hộ không phải lúc nào cũng sẵn cân, và để tiến hành cân 1 con trâu hay bò có khối lượng lớn không phải là chuyện dễ.

Vì vậy chúng ta có thể ước lượng khối lượng con trâu hay bò tương đối chính xác thông qua công thức đã được nghiên cứu khi biết được vòng ngực và độ dài thân chéo của con trâu (bò) đó. (với sai số khoảng 5%).

 

 

- Đối với bò: Khối lượng (kg) = 88,4 x VN 2 x DTC

 

- Đối với trâu: Khối lượng (kg) = 90,0 x x VN 2 x DTC

 

 

Công thức này chỉ áp dụng đối với trâu bò từ 2 tuổi trở lên.

 Nếu trâu bò mập thì cộng thêm 5% trọng lượng của nó.

 Nếu trâu bò ốm thì trừ đi 5% trọng lượng của nó. 

 

Trong đó:

 

VN: là vòng ngực của trâu (bò)- là chu vi mặt cắt đằng sau xương bả vai (tính bằng mét)

DTC: là độ dài thân chéo - là chiều dài được đo từ mỏm xương bả vai đến điểm tận cùng của xương ngồi (tính bằng mét).

Ví dụ:

- Một con trâu có vòng ngực là 1,82 m; dài thân chéo là 1,25m. Vậy thì khối lượng của nó sẽ là :

Khối lượng (kg) = 90,0 x (1,82)2 x 1,25=372 ( kg )

Một con bò có vòng ngực là 1,45m; dài thân chéo là 1,15m. Vậy khối lượng của nó sẽ là:

Khối lượng = 88,4 x (1,45)2 x 1,15= 214 (kg).

 

CÁCH XÁC ĐỊNH TUỔI TRÂU, BÒ

Một số điểm đáng chú ý như sau:

- Đối với nghé (trâu con) khi thấy đã mọc đủ 8 răng sữa thì nó đã được 6-7 tháng tuổi. Với bê (bò con) là 1 tháng tuổi.

 - Đối với trâu, khi thấy 2 răng sữa chính giữa (răng số 1) rụng là trâu được 20-22 tháng tuổi. Từ tuổi này, trâu bắt đầu thay từ răng sữa thành răng trưởng thành; có thể căn cứ vào đó để xác định thời gian.

 - Nếu thấy 2 răng trưởng thành chính giữa (1) mọc bằng, đồng thời 2 răng sữa áp chính giữa (răng số 2) rụng, là trâu 2 năm tuổi.

 - Khi 2 răng trưởng thành áp chính giữa (2) mọc bằng là trâu đã 3 tuổi.

 - Nếu 2 răng sữa áp góc (răng số 3) rụng, trâu đã 3 tuổi rưỡi.

 - Khi 2 răng trưởng thành áp góc (số 3) mọc bằng, trâu 4 tuổi.

 - Khi 2 răng sữa ở góc (răng số 4) rụng, trâu đã được 4 tuổi rưỡi. - Và nếu 2 răng trưởng thành ở góc (4) mọc là trâu 5 tuổi. Đến đây, trâu đã thay xong toàn bộ 8 chiếc răng cửa hàm dưới, nên ta phải căn cứ vào tình trạng mòn của răng trưởng thành để đoán tuổi trâu như sau:

 - Nếu 2 răng ở góc (4) bắt đầu mòn, các răng khác đã mòn thành hình vệt dài, trâu đã 6 tuổi.

 - Khi 2 răng áp góc (3) mòn thành hình tròn và 2 răng chính giữa (1) mòn thành hình vuông là trâu 9 tuổi.

 - Nếu 2 răng chính giữa (1) xuất hiện sỉ tinh tròn (dấu vết còn lại của tuỷ răng) là trâu 12 tuổi. Cuối cùng, khi thấy các răng ngắn, thưa dần và lung lay là trâu đã 13 tuổi, già yếu…

ĐIỀU TRỊ BỆNH CHƯỚNG HƠI DẠ CỎ CẤP TÍNH TRÊN BÒ

1. Nguyên nhân:
- Giảm hoặc liệt nhu động dạ cỏ ---> Giảm ợ hơi (sốt cao, chất độc từ hóa chất, thuốc trừ sâu, côn trùng)
- Ăn thức ăn làm tăng quá trình sinh hơi ---> ợ hơi không kịp
- Nghẽn thực quản
- Ăn thức ăn gây sinh hơi thể sủi bọt (vd: saponin…)

2. cách sinh bệnh:
Dạ cỏ căng phồng>>ép tim>>trở ngại tuần hoàn
Ngoài ra, tăng áp lực xoang bụng>> trở ngại hô hấp >> thiếu oxy>> chết đột ngột.
3. Triệu chứng:
- Bệnh tiến triển nhanh, bụng trái ngày càng to, thú khó thở, khó chịu.
- Âm trống, âm kim khí dạ cỏ, càng về sau nhu động yếu dần…mất.
- Khó thở, tim đập yếu, chết đột ngột.
4. Điều trị: Quan tâm 2 trường hợp:

              Bò còn đứng được
Bò nằm
1. Dùng ống thông dạ cỏ>>lấy tay
ép dạ cỏ >> xì hơi ra
2. Hỗn hợp 2 xị rượu + tỏi + gừng
giã nhuyễn lấy nước>> đổ vào ống thông
3. Tiêm Pilocarbin
4. Vitamin C
5. Chà sát thành bụng thường xuyên
1. Nâng đầu ên cao (gối lên rơm...)
2. Thoát hơi gấp( đâm troca hoặc kim)
3. Hỗn hợp 2 xị rượu + gừng + tỏi giã nhuyễn >> PO
4. Pilocarbin (tăng nhu động)
5. Camphorate (trợ hô hấp)
6. Vitamin C
7. Chà sát thường xuyên

MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN TRONG CHĂN NUÔI BÒ SỮA


 

Bò sữa là vật nuôi được nông dân phát tri ển mạnh ở vùng ngoại thành TP Hồ Chí Minh.

Các giống bò sữa hiện nuôi ở nước ta đều có nguồn gốc từ các nước ôn đới nên khả năng

chống chịu với bệnh tật không cao, tỷ lệ máu ngoại càng cao thì sức đề kháng càng giảm.

Bên cạnh đó việc khai thác sữa và chế độ nuôi dưỡng chăm sóc không phù hợp dễ làm bò

mắc một số bệnh. Sau đây là một số bệnh sinh sản thường gặp trong nghề chăn nuôi bò

sữa.

1.Chậm sinh và vô sinh:  

Đó là trường hợp bò cái đến tuổi thành thục (14 tháng tuổi trở lên) mà không thấy động

dục hoặc không thể phối giống; hoặc có động dục, phối giống đúng thời điểm nhưng

không thụ thai. Bò cái sau khi sanh 3-5 tháng mà không lên gi ống hoặc có lên giống

nhưng phối giống nhiều lần không đậu thai.

1.1. Đối với bò cái tơ:

   Nguyên nhân có thể là do bộ máy sinh dục phát triển không bình th ường (buồng trứng,

tử cung kém phát triển, có khối u trên buồng trứng…), có thể do viêm nhiễm đường sinh

dục (âm đạo, tử cung…) hoặc do chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc không tốt bò còi cọc như

thiếu khoáng: Photpho, Selenium, đồng, Vitamin A…

Để xử lý cần tìm hiểu tình trạng chăm sóc, nuôi dưỡng nếu tình trạng này xảy ra ở một số

cá thể thì có thể là do những bất thường ở bộ máy sinh dục, còn nếu có nhiều cá thể mắc

phải (trên 50 % số bò cái sinh sản trong trại), thì cần lưu ý đến các yếu tố chăm sóc, nuôi

dưỡng, chuồng trại hoặc bệnh truyền nhiễm.

1.2. Đối với bò cái đã trưởng thành:

   Trước hết lưu ý đến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, vì nhiều hộ chú trọng đến việc khai

thác sữa mà không cung cấp dinh dưỡng đủ, cân đối cho việc hồi phục hoặc không cung

cấp đủ dinh dưỡng trong thời kỳ cạn sữa do tâm lý sai lầm là "sợ cho bò ăn cám hỗn hợp

trong giai đoạn cạn sữa sẽ làm thai to, bò đẻ khó", bò cái ít được vận động. Một sai lầm

khác là nông dân cung cấp quá nhiều thức ăn tinh, hèm bia, xác mì, tỷ lệ thức ăn tinh trên

thô không phù hợp trong quá trình chăn nuôi. Cũng có thể do các viêm nhiễm từ lần sinh

sản trước (viêm tử cung, viêm âm đạo...) mà không được điều trị triệt để.

Để xử lý trước hết người chăn nuôi cần kiểm tra và điều chỉnh quá trình chăn nuôi của

mình, nhờ nhân viên thú y kiểm tra đường sinh dục của bò để có quyết định điều trị phù

hợp (viêm đường sinh dục, tồn lưu thể vàng, u nang bu ồng trứng…)

   Cần lưu ý là việc phát hiện chính xác thời điểm lên giống để phối giống đúng lúc góp

phần quan trọng vào kết quả đậu thai nên người chăn nuôi cần ghi chép vào sổ sách các

thời điểm như ngày sanh, ngày lên giống kỳ trước, tình trạng bệnh sau khi sanh (viêm tử

cung, viêm âm đạo, viêm vú…), dự đoán ngày lên giống (sau khi sanh 45- 60 ngày) để

tập trung quan sát (nhất là vào ban đêm) báo cho d ẫn tinh viên kịp thời phối giống.

2. Viêm vú (Mastitis):

Đây là loại bệnh phổ biến trên bò sữa, dễ lây lan và gây thiệt hại về kinh tế rất lớn vì nó

làm giảm sản lượng sữa và chất lượng sữa. Bệnh gây ra do vệ sinh chuồng trại, vệ sinh

vắt sữa không tốt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn (như liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, song

cầu khuẩn hay trực khuẩn gây mủ) hay nấm Candida albicals xâm nhập vào bầu vú và

gây bệnh. Bệnh viêm vú thường có hai thể: Viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn.

2.1. Viêm vú lâm sàng:

Tình trạng viêm vú có thể xãy ra ở 1, 2

hoặc cả 4 thùy vú, có thể ở các thể sau:

2.1.1. Viêm vú thể tương mạc: Vú bị

sưng ở một thùy hay toàn bộ bầu vú. Khi

ấn mạnh tay vào bầu vú bò bị đau, lượng

sữa giảm rõ rệt, sữa loãng và có hạt lổn

nhổn.

2.1.2. Viêm vú thể Cata: Đặc trưng là tế

bào thượng bì bị tróc ra, ở những ổ viêm có

dịch thấm xuất. Sữa bị cặn hoặc cục sữa vón do dịch thẩm xuất và bạch cầu. Thể viêm vú

này thường không làm bầu vú bị sưng nhưng làm cho núm vú tăng thể tích (to ra) do biểu

bì dầy lên.

2.1.3. Viêm vú có mủ: Biểu hiện đặc trưng là vú có mủ và dịch thẩm xuất. Bò sốt cao,

mệt mỏi, bỏ ăn; bầu vú bị sưng đỏ, nóng và đau. Đầu tiên sữa loãng có màu hồng do xuất

huyết nhẹ và sau đó có lẫn các cục sữa vón và dịch mủ màu vàng nhạt.

2.1.4. Viêm vú có máu: Biểu hiện đặc trưng là các tổ chức của tuyến tiết sữa bị xuất

huyết và tụ huyết. Bệnh thường ở thể cấp tính như bò sốt cao, kém ăn, mệt mỏi, bầu vú

sưng to có những đám tụ huyết. Lượng sữa giảm nhanh có khi ng ừng tiết sữa. Sữa loãng

có màu hồng hoặc đôi khi đỏ như máu do xuất huyết. Bò có thể nhiễm trùng huyết và

chết sau 7-9 ngày.

2.2. Thể viêm vú tiềm ẩn:

Viêm vú thể tiềm ẩn rất phổ biến và gây những thiệt hại kinh tế rất lớn vì nó làm giảm

sản lượng sữa và chất lượng sữa. Bệnh này nguy hiểm ở chỗ là bò mắc bệnh không có

những biểu hiện để người chăn nuôi có thể quan sát được mà muốn phát hiện bệnh phải

thực hiện các test kiểm tra trên sữa. Do vậy, mầm bệnh tồn tại lây lan cho những bò khác

mà người chăn nuôi vẫn không hề hay biết. Theo một số chuyên gia tình trạng viêm vú

tiềm ẩn có thể gây giảm lượng sữa đến 20%, làm tổn thương lâu dài các tế bào, mô tiết

sữa mà người chăn nuôi hoàn toàn không hề biết. Bò ít có triệu chứng bên ngoài, nhưng

thường thì kém ăn, thỉnh thoảng sữa bị tủa và không có biểu hiện triệu chứng ở bầu vú.

Để phát hiện viêm vú tiềm ẩn cần dựa vào dấu hiệu của sữa và xét nghiệm sữa. Hiện nay

có thể dùng test CMT mà thao tác thực hiện không phức tạp người chăn nuôi có thể tự

kiểm tra.

Phòng bệnh viêm vú trước hết phải làm tốt

khâu vệ sinh chuồng trại chăn nuôi, vệ sinh

vắt sữa (dụng cụ, nơi vắt sữa, cơ thể bị, bầu

vú, núm vú, tay người vắt sữa). Tốt nhất

người chăn nuôi không sử dụng “người vắt

sữa thuê”.â Cho bò ăn cám hỗn hợp ngay

sau khi vắt sữa để bò không nằm xuống sàn

khi vắt sữa xong. Kiểm tra định kỳ, cách ly

và điều trị triệt để khi bò mắc bệnh.

3. Viêm tử cung:

Bệnh do nhiễm khuẩn khi gieo tinh nhân tạo hoặc do bò đực bị viêm cơ quan sinh dục.

Viêm tử cung còn do vệ sinh khi đẻ không tốt (chuồng trại bẩn, can thiệp của người chăn

nuôi…). Bệnh viêm tử cung còn do kế phát của bệnh viêm âm đạo và viêm phúc mạc.

Khi các vi khuẩn xâm nhập vào tử cung, phát triển nhanh và gây viêm xung huyết, có

mủ, gây tróc niêm mạc, xuất huyết.

Khi mắc bệnh, bò luôn mệt mỏi, ăn ít, sốt cao, đau vùng hông (bò luôn luôn quay đầu lại

phía sau, đi lại bồn chồn). Vài ngày sau, âm hộ chảy dịch nhầy tanh, có lẫn máu, mủ.

Thông thường khi bò mắc bệnh viêm tử cung thì thường mắc bệnh viêm âm đạo và

ngược lại.

3.1. Bệnh viêm âm đạo:

Nguyên nhân gây bệnh cũng giống như bệnh viêm tử cung và thường hai bệnh này xảy

ra cùng lúc. Vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào âm đạo và phát tri ển trên niêm mạc âm đạo

và gây viêm. Bò có triệu chứng giống như viêm tử cung. Tuy nhiên, khi dùng kềm mỏ vịt

để khám thì thấy những đám tụ huyết, xuất huyết, loét… Khi bò bệnh thì báo cho cán b

thú y đến khám và điều trị.

3.2. Sót nhau:

Sau khi đẻ, nhau thai sẽ được tống ra trong vòng 8-12giờ. Nếu

nhau không ra sau 18 giờ, ta gọi là sót nhau. Nguyên nhân của

hiện tượng sót nhau là do b ất thường của tử cung; bò gầy yếu,

nuôi dưỡng kém bò đẻ khó, đẻ sinh đôi thời gian đẻ kéo dài

nên lực co bóp của tử cung yếu không đẩy nhau ra.

Thông thường bò sót nhau sẽ ăn kém, sốt, nhưng đôi khi không

có biểu hiện gì, vẫn ăn bình thường. Tỉ lệ sót nhau thường

chiếm khỏang 5-15% số bò sinh sản trong đàn, nếu tỉ lệ này

lớn hơn thì vấn đề nuôi dưỡng chăm sóc đàn bò cái sinh sản chưa tốt.

Khi bò sót nhau, cần gọi cán bộ thú y đến xử ly,ù không tự tiện xử lý sẽ gây nên những

tổn thương trên tử cung và từ đó ảnh hưởng đến sự sinh s ản của bò sau này (giảm tỉ lệ thụ

thai).

Tập ảnh màu về bệnh ở gia súc
tập ảnh màu về bệnh ở gia súc.pdf
Adobe Acrobat Document [8.8 MB]
Download
Tap anh mau benh o ngua
tập ảnh màu ở ngựa.pdf
Adobe Acrobat Document [2.0 MB]
Download
Co To quoc Co Viet Nam Vietnam Flag
THỜI TIẾT HÔM NAY
Hà Nội
Phú Yên
TP. Hồ Chí Minh

Lịch phát sóng


Power by
DANH NGÔN CỔ NHÂN

Cập nhật ngày 20 tháng 22 năm 2014